Trần Viết Ðại Hưng
Cuốn phim tài liệu “Người con gái từ Ðà Nẵng” (A daughter from Danang) là một phim hay và có giá trị. Phim này đoạt giải Grand Jury của Liên Hoan Ðiện Ảnh Sundance và được tuyển chọn vào trong những phim dự thi của giải Oscar nhưng tiếc rằng không thắng. Phim kể chuyện về một người con gái lai Mỹ, rời Ðà Nẵng năm 7 tuổi trong một chương trình di tản mang tên “Kế hoạch bốc trẻ em” (Operation Babylift). Sau khi ở Mỹ 22 năm, cô con gái lai Mỹ này về Ðà Nẵng để gặp lại mẹ.
Cuộc gặp gỡ trùng phùng mừng mừng tủi tủi này, sau một tuần sum họp bên nhau, trước những yêu cầu trợ giúp từ người mẹ, cô con gái lai Mỹ này đã biểu lộ sự bực bội khó chịu khi nghe lời đề nghị lo lắng và phụng dưỡng cho mẹ. Cuộc hội ngộ tưởng sẽ dấy lên nhiều hy vọng và ước mong cho mẹ và con lại trở nên đầy tràn sự căng thẳng và hiểu nhầm vì sự cách biệt văn hóa giữa người con gái lai Mỹ và gia đình ngày càng lớn dần lên. Liệu nền văn hóa Mỹ nơi cô lớn lên đã tạo cho cô cách ứng xử bạc bẽo và vô tình này hay cô cũng chỉ là một sự chấn thương còn sót lại của cuộc chiến tranh Việt
Cuốn phim cho biết có một người đàn bà tên Mai Thị Kim ở Ðà Nẵng. Bà có 3 con, chồng bà đi vào bưng theo Việt Cộng. Bà được bạn bè giới thiệu đi làm việc ở một căn cứ quân sự Mỹ và từ đó có quan hệ tình cảm với một quân nhân Mỹ. Rốt cuộc bà mang thai và khi bào thai được 4 tháng thì người quân nhân Mỹ này lên đường về nước. Ðứa bé gái được sinh ra, vì không có cha nên bà lấy họ mẹ đặt cho bé và bà đặt tên bé gái là Hiệp, có nghĩa là “hiệp thông”, liên hiệp với mẹ. Mai Thị Hiệp ra đời như bao nhiêu đứa con lai Mỹ ở Việt Nam, ra đời không phải trong một không khí hân hoan vui vẻ mà ra đời trong tâm trạng bẽ bàng của người mẹ trước sự dị nghị của hàng xóm, láng giềng. Năm ấy là năm 1968. Vào những ngày trước Tháng Tư năm 1975, bà nghe tin đồn là khi Cộng Sản vào thành phố, chúng sẽ gom lại những đứa con lai Mỹ rồi tẩm xăng và đốt. Vì quá lo sợ cho tính mạng của con, bà đem bé Hiệp đến một văn phòng thiện nguyện của người Mỹ nhờ họ giúp cho bé di tản.
Bà đẩy con đi để cứu con chứ không phải đẩy con đi để trút bỏ một gánh nặng. Lúc đưa Hiệp cho người nữ nhân viên hội thiện nguyện, bà thắc mắc hỏi sao hội không đưa cho bà giấy tờ nói rõ chuyện Hiệp sẽ đi về đâu, nếu không đưa cho bà giấy tờ thì làm sao bà kiếm được lại con trong tương lai? Người nữ nhân viên thiện nguyện chỉ trả lời là khi người Mỹ trở lại, bà sẽ có lại đứa con. Bà ở lại nuôi ba đứa con của người chồng cũ, nhưng bà phải đẩy Mai Thị Hiệp đi di tản vì sợ đứa con gái lai Mỹ này sẽ bị Cộng Sản giết. Từ lúc đẩy bé Hiệp đi, không lúc nào bà không nhớ đến bé. Cuộc sống càng khó khăn, đau khổ thì bà lại càng nhớ đến Hiệp nhiều hơn.
Sau khi đến Mỹ, Mai Thị Hiệp được một phụ nữ không chồng bảo lãnh và Hiệp về sống ở vùng Columbia, South Carolina rồi sau đó dọn về vùng Pulaski, Tennessee. Mai Thị Hiệp được đổi tên là Heidi Bub. Sau này Heidi có viết một bài văn nói đến chuyện bà mẹ nuôi người Mỹ đối xử rất khắt khe với cô. Bà tỏ vẻ khó chịu khi Heidi hẹn hò với bạn trai và về nhà quá khuya. Có một đêm, sau khi làm việc, cô đi hẹn hò và về nhà quá trễ. Bà mẹ nuôi đóng cửa nhà không cho cô vào. Cô phải đến nhà bạn để ngủ qua đêm. Khi cô lên đại học thì bà mẹ nuôi tuyên bố đuổi cô ra khỏi nhà. Cô tìm cách viết thư hàn gắn tình cảm với bà nhưng không thành công. Heidi cảm thấy chán nản và buồn rầu nhiều trong thời gian này. Trong ý nghĩ của cô, trời đã dành quá nhiều bất hạnh cho cô: mẹ đẻ bỏ rơi cô khi cô còn nhỏ và mẹ nuôi tống cổ cô ra khỏi nhà. Cô sống nhờ bạn bè lúc đầu, sau đó kiếm việc làm trong khi đi học đại học. Cuối cùng cô lấy chồng là một bạn trai hồi trung học và có 2 đứa con gái. Chồng cô là một quân nhân.
Cô bắt đầu liên lạc những văn phòng con nuôi để tìm mẹ ruột, trong khi mẹ ruột cô là bà Mai Thị Kim cũng bắn tin qua Mỹ để tìm đứa con gái lai Mỹ mà bà đã đẩy đi Mỹ năm 1975. Cuối cùng hai mẹ con đã bắt được liên lạc với nhau.
Ngày 23 Tháng Ba năm 1997 cô quyết định về thăm mẹ ở Ðà Nẵng. Ði cùng với cô là đoàn quay phim và họ đã ghi lại những hình ảnh đoàn tụ mừng mừng tủi tủi thật cảm động giữa hai mẹ con tại phi trường Ðà Nẵng. Vài ngày sau cũng là những ngày chuyện trò tíu tít để bù lại 22 năm xa cách giữa bà mẹ và đứa con gái lai Mỹ. Khi gia đình hỏi về chuyện tiền bạc thì Heidi đã bắt đầu tỏ vẻ khó chịu. Nhìn thấy nếp sống khổ cực của mẹ và gia đình, cô cũng cảm thấy áy náy khi nghĩ đến cuộc sống sung túc, tuyệt vời của cô với chồng và hai con ở Mỹ. Bà mẹ nói thẳng ước muốn của bà là bà muốn qua Mỹ để sống những ngày còn lại cuối đời.
Ông anh trai cùng mẹ khác cha nói cho Heidi biết là trong thời gian Heidi xa gia đình thì anh và chị của Heidi đã khổ cực lo lắng cho mẹ, và giờ đây là lúc Heidi phải nhận lấy bổn phận lo cho gia đình. Heidi cảm thấy lạc lõng khi nghe như thế, cô cảm thấy bị áp lực và không còn nghĩ sự đoàn tụ sau bao ngày xa cách có ý nghĩa gì nữa không như cô đã tưởng. Sự vui mừng đoàn tụ giờ đây nhường chỗ cho sự khó chịu và bẽ bàng. Ðối với cô thì chuyện gia đình mong mỏi cô gánh vác giống như một thứ đổi chác khi cô trở về nhà. Heidi cảm thấy mình không có trách nhiệm gì cả. Heidi đồng ý là mình khá giả hơn gia đình ở Việt Nam nhưng rồi gia đình cô còn phải đối phó với chi phí chi tiêu gia đình, tiền nợ, và những nhu cầu hàng ngày của chồng cô và hai con.
Khi trở về Mỹ sau cuộc viếng thăm mẹ, Heidi vui mừng thấy lại chồng và hai con và cô không muốn nghĩ gì về những chuyện ở Việt
Cô đưa ra lời khuyên cho những ai muốn tìm lại cha mẹ ruột là người con phải tìm hiểu phong tục, tập quán và đời sống của cha mẹ trước ngày đoàn tụ để khi gặp nhau tránh khỏi chuyện đau đớn và bất bình. Cô ân hận là đã quá vội vã để đi đoàn tụ với mẹ nên đụng phải sự hiểu lầm và hối tiếc về mặt tình cảm. Ðoạn cuối cuốn phim, Heidi nói một câu lửng lơ, bạc bẽo để diễn tả mối liên lạc giữa cô và mẹ như sau, “Tôi đóng cửa nhưng không khóa” (It's closed, but it's not locked). Câu nói này cho thấy Heidi chưa muốn cắt đứt hoàn toàn liên lạc với mẹ nhưng cô không muốn liên hệ nhiều với mẹ vì sợ phải giúp đỡ mẹ.
Nhìn thấy thái độ từ khước giúp đỡ mẹ của Heidi, bà Kim tỏ ra buồn bực, thất vọng trên nét mặt và người coi phim cảm thấy bùi ngùi thương hại cho người mẹ bất hạnh kém may mắn này. Bà nói chuyện con cái giúp đỡ cha mẹ là chuyện thường tình ở Việt
Học giả Nguyễn Hiến Lê, dù cả cuộc đời chưa ra sống ở ngoại quốc, nhưng liên hệ nhiều với bạn bè sống ở nước ngoài nên ông cũng có những nhận định chính xác về lề thói con cái ở Tây phương đối xử bạc bẽo với cha mẹ khi cha mẹ về già. Ông ghi lại điều này trong hồi ký của ông như sau: “Người Âu Mỹ lớn rồi thì ra ở riêng, có khi cả tháng, cả năm không lại thăm cha mẹ một lần; cha mẹ già thì đưa vào nhà dưỡng lão. Một ông già nọ bước chân vào nhà dưỡng lão, quay lại nhìn đứa con trai, nghe nó dặn nhỏ: Ba đừng nói hở tên gia đình mình ra nhé”. Mỗi vụ hè có hàng ngàn người ở
Mười đứa thì có tới chín đứa không nuôi cha mẹ. Tôi mới nghe nói vợ một học giả quá cố Việt Nam rất có tiếng tăm, chỉ có mỗi một người con gái có chồng Pháp vào hạng khá giả, mà bị con gái hất hủi, cấm không cho vô nhà chỉ vì làm phiền vợ chồng nó thôi; và bà cụ đã gần tám mươi tuổi đành phải lại ở nhờ một người cháu, không biết được bao lâu và sẽ bị cháu đuổi nữa không?
Văn minh Âu Tây tuy có những nét rực rỡ thật, có những hội bênh vực quyền làm người, cả quyền của loài vật nữa, nhưng như vậy không thể gọi là văn minh kiểu mẫu, trừ khi, như nữ sĩ Pearl Buck nói: Kiểu mẫu đó là chủ nghĩa cá nhân.” (hồi ký Nguyễn Hiến Lê trang 167, 168, tập 2, nhà xuất bản Văn Nghệ-Hoa Kỳ)
Nếu Heidi lớn lên trong hoàn cảnh và lối sống Việt Nam thì khi gặp lại mẹ, cô cũng không cần mẹ và anh chị em cô nhắc nhở cho cô về chuyện phải cấp dưỡng chăm sóc cho mẹ mà cô tự cảm thấy có bổn phận phải lo lắng, chu cấp cho mẹ. Cô phải hiểu rằng trong đời này không có gì ngọt ngào, đằm thắm cho bằng tình mẹ. Người ta đã ví tình thương của mẹ như sau:
“Mẹ già như chuối Bà Hương
Như xôi nếp một như đường mía lau”
Phải nói là hạnh phúc và may mắn biết bao cho người con được có cơ hội để lo lắng chăm sóc cho mẹ lúc tuổi già bóng xế. Heidi oán trách mẹ là đã bỏ rơi cô khi còn nhỏ là một trách cứ hoàn toàn không đúng. Chỉ vì muốn cứu cô mà mẹ cô đành phải gạt lệ đẩy cô ra đi để rồi sau đó phải sống những ngày khủng hoảng, đau đớn.
Nếu Heidi lớn lên trong không khí Việt Nam, cô sẽ được nghe bài hát bất hủ “Lòng mẹ“ của nhạc sĩ Y Vân để cô thương mẹ nhiều hơn:
“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào
Lòng mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.”
Ở xứ Mỹ nơi cô lớn lên, cách đây vài năm, đã có một người mẹ Mỹ trắng cho 2 đứa con vào chiếc xe rồi đẩy xuống nước cho con chết và sau đó ngụy tạo như là một chuyện hai đứa con bị bắt cóc. Bà ta giết con để trút bỏ một gánh nặng để bà ta có thể nhẹ nợ mà đi theo tiếng gọi của yêu đương. Nền văn hóa Mỹ đã không tạo nên được lòng thương con vô bờ bến như nền văn hóa Việt
Nếu vào trường học Việt Nam, Heidi sẽ được dạy cho những bài học vỡ lòng về công cha, nghĩa mẹ và những lời dạy này sẽ in sâu vào trong đầu óc trong trắng của cô như vết mực đỏ son in lên trang giấy trắng:
“Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Và công lao nuôi nấng của cha mẹ:
Nâng niu bú mớm đêm ngày
Công cha nghĩa mẹ coi tầy biển non”
Ngay cả người con gái đôi khi vì lấy chồng xa cũng hối tiếc là mình không được dịp gần gũi cha mẹ để lo lắng cho song thân.
“Chồng gần không lấy lại lấy chồng xa
Mai sau cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng”
Cô sẽ được học 24 gương hiếu thảo của người con trong tác phẩm “Nhị thập tứ hiếu”, nếu cô theo đạo Phật, thì vào mùa lễ Vu Lan cô sẽ được kể cho nghe chuyện hiếu đạo của Mục Kiền Liên đối với mẹ là bà Thanh Ðề. Cô sẽ hiểu cách sống ngàn đời của người Việt Nam là “trẻ cậy cha, già cậy con”. Lúc còn nhỏ con cái trông cậy vào sự nuôi nấng của cha mẹ thì khi cha mẹ về già lại nương tựa vào con là một chuyện làm hợp lý. Chỉ có những đứa con bất hiếu, vô giáo dục mới coi chuyện lo lắng, phụng dưỡng cha mẹ là một gánh nặng. Chỉ có ở Tây phương này, vì quá đề cao chủ nghĩa cá nhân nên con người mới tìm đủ mọi cách để cung phụng cho bản thân mình mọi tiện nghi, lạc thú, còn chuyện lo lắng trông nom cha mẹ già yếu thì không đoái hoài đến, không coi đó là bổn phận của mình.
Một nền văn hóa đề cao sự ích kỷ bạc bẽo như thế thì sẽ sinh ra thứ con vô tình bạc bẽo với mẹ như cô gái Heidi trong phim tài liệu “Người con gái từ Ðà Nẵng” cũng không làm ai ngạc nhiên. Có rất nhiều định nghĩa về “văn hóa” nhưng định nghĩa ngắn gọn và cô đọng nhất là “văn hóa là lối sống”. Lề lối sinh sống đối xử của một con người chắc chắn tùy thuộc nhiều vào văn hóa nơi người đó hấp thụ khi lớn lên. Văn hóa như thế nào thì lối sống như thế, đó là chuyện hiển nhiên.
Hiện nay trong những gia đình tỵ nạn Việt Nam ở hải ngoại, một số nhiều gia đình tan nát vì tệ nạn ly dị, phần lớn là do những người vợ chủ xướng. Người đàn bà Việt
Cây cam trồng ở phương
Văn hóa Trung Hoa vì là văn hóa Á Ðông nên cũng có một số điểm tương đồng như văn hóa Việt Nam khi nói đến bổn phận và trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ lúc về già. Văn hóa Trung Hoa không những khuyên bảo con cái phải giữ chữ Hiếu lúc cha mẹ còn sống mà khi cha mẹ mất đi con cái phải để tang cha mẹ trong vòng 3 năm. Ba năm để tang cũng là một thời gian hợp lý để đền trả lại “công cha, nghĩa mẹ” vì thời gian từ lúc đứa con sinh ra cho đến khi 3 tuổi là thời gian cha mẹ cực khổ nuôi nấng nhất. Lo lắng cho cha mẹ lúc còn sinh tiền, tưởng nhớ đến cha mẹ lúc khuất bóng là căn bản của văn hóa Trung Hoa và Việt
Có nhìn thấy sự bạc bẽo khốn nạn của những đứa con trong xã hội Tây phương đối với cha mẹ thì mới thấy nền văn hóa Á Ðông như Trung Hoa và Việt Nam có những nét đặc thù đáng quý và đáng được lưu truyền.
Nhà lý luận thiên tài Hà Sĩ Phu cũng dành những lời lẽ cảm động, thiết tha khi nói đến hai bậc sinh thành của mình khi hai người khuất bóng. Ông làm câu đối khóc khi mai táng mẹ như sau:“Trời dẫu sập chẳng đau bằng mất mẹ
Ðất tuy dày không cản được lòng con”
Ông còn làm một câu đối gửi ra từ trong tù (1996) nhân ngày giỗ cha ông:
“Nhớ giỗ Cha thắp nén hương thầm, đem chí khí quyết đền công dưỡng dục!
Yêu đất Mẹ mở con đường lớn, lấy bút nghiên mong trả nợ tang bồng”
Nhìn lại cô con gái lai Mỹ Heidi, cô qua Mỹ sống cuộc đời sung sướng là cũng do mẹ cô đẩy cô đi. Nếu cô không được mẹ đẩy đi năm 1975 thì khi ở lại cô có quyền nếm mùi bo bo và cơm độn chứ không hưởng được đời sống tiện nghi vật chất mà cô đang có hiện tại ở Mỹ. Mẹ cô đưa đề nghị muốn cô bảo lãnh mẹ qua Mỹ, cô từ chối. Nếu không thì mẹ mong cô giúp đỡ chút ít tiền bạc vật chất trong lúc tuổi già bóng xế mà cô cũng lạnh lùng, tàn nhẫn khước từ. Thật không biết dùng danh từ nào nữa đây để nguyền rủa cô con gái lai khốn nạn, bất hiếu này. Cô cũng có hai đứa con gái, chắc là rồi đây khi cô về già, cô cũng lại gặp sự đối xử bạc bẽo, vô trách nhiệm của hai con cô dành cho cô như cô đã đối xử tàn tệ, dửng dưng với người mẹ ruột ở Ðà Nẵng. Khi bà Mai Thị Kim đẩy đứa con lai Mai Thị Hiệp đi Mỹ, bà chỉ có ý định cứu đứa con vì sợ Cộng Sản làm hại con bà. Tiếc thay, đứa con của bà lớn lên trong xã hội Mỹ, tiêm nhiễm văn hóa Mỹ nên nó từ khước bà vì sợ mang gánh nặng cưu mang, cấp dưỡng cho bà. Bà coi như mất đứa con bạc bẽo, vô tình này.
Cơn hồng thủy 30 Tháng Tư 1975 không chỉ làm cho bà mẹ Mai Thị Kim phải xa rời đứa con lai Mỹ Mai Thị Hiệp mà còn làm cho bao nhiêu gia đình Việt Nam khác ly tán khắp bốn phương trời như những cánh hoa bay tơi tả trong một chiều gió lộng. Những người Việt ly hương, vì được lớn lên trong xã hội và nền văn hóa Việt
Quà cáp hay tiền không phải là chuyện thù tạc cho vui mà chính là những phương tiện để nuôi sống gia đình còn kẹt lại. Ðạo lý Việt
Chiến tranh Việt
Mai Thị Hiệp là một thí dụ điển hình, tới giờ này cô cũng chẳng biết cha cô là ai. Những đứa con lai như Hiệp lớn lên trong nền văn hóa “vô tình bạc nghĩa” Tây phương nên đã gây ra nhiều đau khổ cho những người mẹ Việt
Cách đối xử tốt đẹp hay tàn tệ của con cái đối với cha mẹ không phải là một chuyện làm ngẫu nhiên tình cờ mà là cả một quá trình giáo dục và đào tạo cùng sự ảnh hưởng của môi trường sống nơi đứa con lớn lên. Cho dù thời thế có thay đổi thế nào chăng nữa thì “cha mẹ từ, con hiếu” vẫn là câu châm ngôn muôn đời để cho mọi gia đình Việt
Còn có biết bao nhiêu đứa con bạc bẽo, bất hiếu như Heidi Mai Thị Hiệp nằm trong những gia đình Việt
Quê hương ngàn trùng xa cách nhưng nếu trong gia đình Việt lưu vong có những đứa con hiếu thảo biết lo lắng phụng dưỡng cho cha mẹ lúc tuổi già bóng xế thì chuyện đó cũng làm ấm lòng bao bậc cha mẹ trong những ngày tháng buồn nản ở xứ lạ, quê người.


